Nguyễn Du và ví, giặm

11

Tham tu tu T&T: Ví, giặm Nghệ Tĩnh cuốn hút cả người nông dân chân lấm tay bùn đến giới trí thức nhiều chữ nghĩa. Tính bác học trong ví, giặm là do giới trí thức thổi vào.

Thông tin hữu ích: 

Trung tâm Thám tử Sài Gòn T&T – 0938 770597 – 0974 007007 – 0969 007007

Email: thamtutu@hotmail.com

Xưa Nguyễn Du rất mê hát ví, giặm. Với chàng Nguyễn thì nơi để hát phải là làng Trường Lưu, vì gái Trường Lưu hát hay và xinh đẹp. Từ làng Tiên Điền của Nguyễn Du đến làng Trường Lưu khá xa (hàng chục cây số). Ngày xuân, Nguyễn Du đội mưa phùn đến Trường Lưu hát ví. Trời mưa, sân đất trơn, chàng Nguyễn đã phải bấm cả 10 ngón chân xuống mặt sân mà vẫn trượt ngã. Các cô gái Trường Lưu hát:

“Là người ơi…

Đến đây hò hát vui xuân

Khấu đầu lạy tạ trước sân làm gì?”

Với tài thơ của Nguyễn Du thì đáp lại câu hát đó không khó. Nguyễn Du hát:

“Đất chi có đất lạ lùng

Bấm thì chẳng chịu, nằm cùng lại cho”.

Ví, giặm có luật lệ riêng của nó. Đã nằm cùng thì tiếp theo phải có cái gì đó chứ không thể nằm suông. Các cô gái Trường Lưu hát:

“Thượng điền tích thủy, hạ điền khan

Ruộng em nứt dọc, nẻ ngang

Anh không cho nước, ruộng bỏ hoang đây này…”.

Nguyễn Du tinh nghịch pha chút hào:

“Khoe chi chút ruộng toèn hoen

Nếu anh tháo cống, ruộng em sẽ tràn”.

Các cô gái Trường Lưu thách chàng Nguyễn:

“Thì tháo cống đi anh

Tháo thật mạnh đi anh

Tháo cho đủ 5 canh

Nếu có đầy em chịu

Nếu có tràn em chịu”.

Thật khổ. Chàng Nguyễn nhà ta lấy đâu ra nước để tháo cống cho đủ 5 canh. Thế là Nguyễn Du phải chắp tay vái một cái. Đó là tín hiệu nhận thua cuộc trong hát ví, giặm.

Ví, giặm gắn liền với thơ ca. Mẹ tôi nói thơ của bác Trần Hữu Thung là ví, giặm. Quả đúng như vậy. Bài thơ “Thăm lúa” của Trần tiên sinh đoạt giải nhất văn học tại Đại hội Liên hoan thanh niên sinh viên thế giới năm 1953, nghe không khác ví, giặm một chút nào.

“Sáng ấy anh lên đường

Cái sắc mây anh mang

Em cắp mo cơm nếp

Lúa níu anh trật dép

Anh cúi sửa vội vàng

Vượt cánh đồng tắt ngang

Đến bờ ni anh bảo

Ruộng mình quên cày xáo

Nên lúa chín không đều

Nhớ lấy để mùa sau

Nhà cố làm cho tốt…”.

Bài thơ ấy mẹ tôi thường hát ru cháu bằng làn điệu dân ca ví, giặm. Ví, giặm là thơ, ví, giặm là nhạc. Trong nhạc của An Thuyên, của Nguyễn Trọng Tạo và Hồ Hữu Thới đều có âm hưởng của ví, giặm. Tính đạo lý cũng thấm đẫm trong ví, giặm. Xưa mẹ thường hát ru tôi bên cánh võng:

“Nghĩ phận mình con cháu

Lấy chữ hiếu làm đầu

Sống có trước, có sau

Cãi ông bà sao được

Cãi mẹ thầy sao được”

Đó là hát ru bằng ví, giặm. Đó cũng là dạy con đạo lý làm người. Ví, giặm là minh triết dân gian. Không phải các nghi thức cung đình là bản sắc văn hóa dân tộc, mà chính minh triết dân gian mới là bản sắc văn hóa Việt Nam. Không một loại hình văn hóa dân gian nào dạy con người đạo lý nhiều như ví, giặm. “Ai biết nước sông Lam răng là trong, là đục, thì biết sống cuộc đời răng là nhục, là vinh. Thuyền em lên thác xuống ghềnh. Nước non là nghĩa, là tình ai ơi”.

(Còn nữa)

Khánh Hoàng

SHARE
thám tử, thám tử tphcm,tham tu, tham tu tu, dich vu tham tu, cong ty tham tu, trung tam tham tu, thám tử sài gòn, thám tử tư sài gòn, công ty thám tử sài gòn, văn phòng thám tử sài gòn, dịch vụ thám tử sài gòn, trung tâm thám tử sài gòn